Làng trống Bình An tỉnh Long An

[vanhoamientay.com] Làng trống Bình An làng trống “độc nhất của phía Nam, làm trống phải qua hơn 20 công đoạn, nghề làm trống đòi hỏi sức mạnh, sự cẩn trọng, tỉ mỉ đến từng chi tiết.

Trống - một biểu tượng không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam
Trống – một biểu tượng không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam

Ở nước ta, hầu hết các đình, chùa, miếu, trường học, đến các đoàn hát, đoàn lân… nơi nào cũng có trống. Có thể nói, nhiều năm nay trống gắn liền với các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng dân gian của dân tộc.

Nếu bạn có dịp về thăm Long An, nhớ ghé xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ. Nơi đây có làng trống Bình An, nơi sản xuất và cung cấp trống “độc nhất” ở phía Nam – một điểm nhấn của văn hóa Tây Nam Bộ và là nét đặc trưng của du lịch tỉnh Long An.

Làng trống Bình An có thể được xem là điểm du lịch khá mới mẻ. Tuy nhiên, làng nghề nhanh chống trở thành trở thành một điểm tham quan văn hóa được nhiều người tìm đến.

[adsres]

Làng nghề trống độc nhất phía Nam

Ấn tượng đầu tiên khi đến với làng trống Bình An là hình ảnh những mảnh gỗ sao, lồng mứt được phơi trên sân cạnh những tấm da trâu được căng ra trên chiếc khung rộng.
Làng trống được cho là hình thành cách đây gần 200 năm. Người có công đưa nghề trống phát triển trong làng là ông Nguyễn Văn Ty. Đa số người dân nơi đây đã làm nghề từ vài chục năm, theo nghiệp cha truyền con nối.

Nghệ nhân Năm Mến (người đang gõ trống) đang thử âm thanh của trống cùng con trai đang làm các công đoạn của trống
Nghệ nhân Năm Mến (người đang gõ trống) đang thử âm thanh của trống cùng con trai đang làm các công đoạn của trống

Thời đó, ông Ty có ghe chài chuyên đi mua bán nước mắm từ Long An sang các tỉnh miền Tây. Trong quá trình đi buôn bán, ông Ty phát hiện dọc sông Vàm Cỏ nhiều người làm thịt trâu bỏ phần da. Thấy vậy, ông mang da trâu về phơi khô rồi mày mò làm trống.

Sau khi ông Ty qua đời, con cháu ông tiếp tục làm trống. Nếu như trước đây làm trống nhằm mục đích giải trí cho vui, thì những đời sau này bắt đầu tính chuyện làm trống để “bán”.
Theo đó, những thợ làm trống sáng chế ra phương pháp dùng giàn chò, giàn giáo… để làm công cụ bịt trống, thân trống được làm bằng gỗ sao rất tốt đảm bảo độ bền cao. Trống được sơn màu đỏ và thiết kế bề ngoài khá đẹp.

Da trâu đã cắt theo khuôn trống treo dây lên phơi sau khi đã được làm lông
Da trâu đã cắt theo khuôn trống treo dây lên phơi sau khi đã được làm lông

Làng trống Bình An

Mặc dù có lúc thăng lúc trầm nhưng nghề bịt trống ở Bình An vẫn tồn tại nhờ những người có tâm huyết với nghề. Mặc dù hiện nay việc mua nguyên liệu làm trống khó khăn hơn, nhất là tìm da trâu già để bịt trống, nhưng những cơ sở ở đây vẫn cố gắng duy trì nghề truyền thống của ông cha để lại.
Nghề làm trống đòi hỏi sức mạnh, sự cẩn trọng, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Người nghệ nhân thoăn thoắt tay, sau mỗi lần gõ, chiếc trống được cơi lên, những sợi dây buộc vào tấm da căng dần để miếng da bịt trên mặt trống căng hết cỡ. Dùng chiếc dùi gõ mạnh vào mặt trống, tiếng kêu tùng tùng vang lên mới đúng chuẩn.

Làm trống phải qua hơn 20 công đoạn. Muốn trống bền phải chọn gỗ sao. Gỗ đem về phơi khô, đo cắt, uốn cong, xử lý mối mọt trước khi ghép lại. Phải khéo léo dùng tay ghép mạnh từng miếng ván lại sao cho mép ván không bị hở. Khó nhất là công đoạn bịt da.

Để làm thành phẩm một chiếc trống là cả một kỳ công của người nghệ nhân
Để làm thành phẩm một chiếc trống là cả một kỳ công của người nghệ nhân

Da trâu được mua về sau khi xử lý đem ra phơi nắng cho khô. Ngày trước phơi da trâu bằng những sợi dây thừng căng ra 4 góc nhưng giờ căng bằng những khung thép để da không bị thủng. Đặc biệt, muốn trống có tiếng kêu thanh, vang, trước khi bịt, da phải được bào thật kỹ.

Trống Bình An không chỉ bền, đẹp, đa dạng mẫu mã mà âm thanh cũng vang vọng, trầm bổng hơn nhiều loại trống khác. Chính kỹ thuật ghép gỗ khéo léo, bí quyết bào da đã tạo nên sự khác biệt cho từng chiếc trống của làng trống Bình An.
Như thế, tiếng trống của làng đã vang xa và cũng chính tiếng trống ấy, đã kéo du khách đến gần với làng nghề hơn.
Hy vọng, làng trống Bình An sẽ trở thành điểm đến được thật nhiều du khách biết đến, thêm yêu thích hơn tiếng trống Bình An, lẫn con người tài hoa và rất chân thành hiền hậu của xứ trống này.

Tết Đoan ngọ – mùng 5 tháng 5

Tháng tư đong đậu nấu chè

Ăn Tết Đoan ngọ trở về tháng năm” (ca dao).

[vanhoamientay.com] Dù không rộn ràng, náo nhiệt như ngày Tết cổ truyền nhưng Tết Đoan ngọ vẫn được lưu truyền và có một vị trí nhất định trong lòng người dân đất Việt. 

Bánh ú nước tro luôn hút hàng vào mùng 5
Bánh ú nước tro luôn hút hàng vào mùng 5

Năm nay Tết Đoan ngọ rơi vào ngày 20/6 dương lịch. Có thể nói, đây là một trong những ngày Tết quan trọng trong tín ngưỡng dân gian. Không ai biết chính xác Tết Đoan ngọ có từ khi nào, chỉ nhớ thời xưa, khi nông dân ăn mừng vì trúng mùa thì rất nhiều sâu bọ kéo đến phá hoại. Giữa lúc bà con không biết làm gì thì có một ông lão xuất hiện. Theo lời ông, mỗi nhà hãy lập bàn cúng bánh ú tro, trái cây và vận động thể lực. Không ngờ sâu bọ hết thật! Trước khi đi, ông lão còn dặn, mỗi năm cứ đến ngày này phải làm như vậy- đó là ngày mùng 5 tháng 5 âl.

Cũng có nhiều gia đình giữ phong tục của gia đình, cứ đến mùng 5-5, bà sẽ bắt những con côn trùng (kiến, sâu, gián…) quanh nhà đem lên chảo nóng chiên. Kèm theo đó là những lời khấn tốt đẹp sẽ đến với gia đình, xóm làng. Bởi vậy, Tết Đoan ngọ còn được gọi với cái tên là ngày diệt sâu bọ.

Năm nào cũng vậy, cách mùng 5-5 một tuần, các khu chợ lại nhộn nhịp hẳn lên, nhất là khu vực bán hoa, trái cây. Sẽ thật là thiếu sót khi nhắc đến Tết Đoan ngọ, mà không nói về bánh ú lá tre – loại bánh luôn hiện diện trên các mâm cúng ông bà.

Không chỉ là dịp để mọi người nhớ đến tích xưa, mà còn dịp để nhiều gia đình tăng thêm thu nhập từ nghề gói bán ú nước tro.

banh-u

Kế thừa nghề gói bánh ú từ bà mình, chị Bé Hai (TP. Long Xuyên) đã gắn bó với nó từ thời con gái. Ngày thường, chị vẫn gói bánh ú tro (bánh ú lá tre) để bán. Tuy nhiên, số lượng bán tăng hơn nhiều khi Tết nửa năm đến. Hơn một tuần nay, mọi người đến đặt hàng rất đông. Có người đặt mua đến 700 cái bánh. Tất nhiên, giá bán vẫn không thay đổi dù là ngày Tết. Ngoài việc để cúng, loại bánh này có vị thanh mát. Nguyên liệu bánh chỉ là đậu xanh và nếp ngâm nước tro nên hợp khẩu vị nhiều người.

Ở thành thị đôi khi vì công việc nên Tết Đoan ngọ trông không rơm rả như ở vùng quê. Về những vùng nông thôn, người dân ăn mừng Tết Đoan ngọ rôm rả hơn nhiều. Tôi nhớ khi còn bé, cứ đến mùng 5 tháng 5 thì anh em chúng tôi được ba mẹ mua cho quần áo đẹp đi viếng ông bà. Mẹ đi chợ mua thật nhiều đồ về cúng như Tết Nguyên đán vậy.

Thường, mâm cơm cúng mùng 5 được mọi người dọn lên vào giờ trưa. Sau khi người có vai vế lớn nhất cúng lạy mới tới con cháu. Sau nghi thức cúng, mọi người sẽ cùng ngồi lại thưởng thức bữa cơm gia đình ấm áp, yêu thương.

Qua thăng trầm cuộc sống, Tết Đoan ngọ ngày nay có đôi chút khác xưa. Song, niềm mong ước, những ý nghĩa tốt đẹp mà nó mang lại vẫn là những giá trị không gì thay thế được.

Bánh xèo cao lãnh, đồng tháp

Về Đồng Tháp ăn bánh xèo Cao Lãnh

[vanhoamientay.com]   Bánh xèo Cao Lãnh, Đồng Tháp không những nổi tiếng bỡi loại bánh làm từ bột gạo, đổ thật mỏng trong chảo nhôm, được đốt trên lò củi, mà trên hết là bánh với nhân từ thịt vịt

Bánh xèo là món ăn quen thuộc của Miền Tây
Bánh xèo là món ăn quen thuộc của Miền Tây

Bánh xèo là món ăn quen thuộc của cả miền Trung và miền Nam, thế nhưng tại mỗi địa phương, bánh xèo có cách chế biến khác nhau. Nổi bật nhất tại miền Tây Nam bộ phải kể đến bánh xèo Cao Lãnh, Đồng Tháp. Loại bánh làm từ bột gạo, đổ thật mỏng trong chảo nhôm, được đốt trên lò củi với nhân thịt vịt

Ngày nay, để tiết kiệm thời gian người làm bánh đã sử dụng bột có sẵn thay vì xay bột như xưa
Ngày nay, để tiết kiệm thời gian người làm bánh đã sử dụng bột có sẵn thay vì xay bột như xưa

Gạo được chọn làm bánh là loại gạo mới, có mùi thơm và thuộc nhóm gạo khi nấu cơm thì cơm khô nở chứ không phải loại gạo dẻo. Gạo mang đi ngâm, xay nhuyễn hòa với nước cốt dừa, chút muối, hành lá xắt nhuyễn. Nguyên liệu cơ bản để làm nhân là củ sắn (củ đậu) và giá đậu xanh.

Tại Cao Lãnh cùng với của sắn và giá, các đầu bếp thường làm bánh xèo nhân tôm thịt và bánh xèo thịt vịt. Tôm được dùng là tôm đất hoặc tôm sú. Thịt heo phải chọn phần thăn để thịt mềm. Bắt chảo lên bếp, chờ chảo nóng thì tráng phần bột mỏng. Sau đó cho lần lượt các loại nhân vào. khi bánh giòn thì gấp lại làm đôi.

Bánh xèo miền tây
Bánh xèo miền tây

Bánh xèo thịt vịt được xem là đặc trưng của Cao Lãnh. Vịt làm sạch, lóc bỏ bớt các xương to, còn chừa xương nhỏ, bằm nhuyễn cả con. Thay vì cho thịt heo và tôm làm nhân, bánh xèo thịt vịt chỉ dùng thịt vịt kèm củ sắn và giá. Điều thú vị nhất của món này là thực khách sẽ có cảm giác cái giòn giòn lợn cợn của xương vịt khi nhai.

Nhân bánh xèo thịt vịt
Nhân bánh xèo thịt vịt

Muốn có cái bánh ngon, đầu bếp phải chú ý rất nhiều chi tiết, kể cả thời gian chiên bánh lẫn kỹ thuật lật gấp bánh. Bánh chiên xong sẽ được lót lá chuối tươi để có mùi thơm.

Bánh thành phẩm được bày lên đĩa, ngươi ăn có thể tùy theo sở thích, hoặc xé từng miếng cho vào chén rồi chan nước mắm, hoặc cuốn với rau thơm.

Bánh xèo Cao Lãnh - Đồng Tháp
Bánh xèo Cao Lãnh – Đồng Tháp

Nước mắm chua ngọt và đồ chua làm từ củ cải trắng, cà rốt được xem là linh hồn của món ăn. Theo dân sành ăn, hàng quán hơn nhau ở chỗ pha nước mắm. Quán nào nước mắm không ngon, quán đó chắc chắn vắng khách.

Nước mắm chua ngọt là linh hồn của mốn ăn
Nước mắm chua ngọt là linh hồn của mốn ăn

Bên cạnh nước mắm, điều khiến món bánh xèo trở nên hấp dẫn và cũng là thành phần không thể thiếu đối với món bánh xèo đó chính là rau. Tại khu bánh xèo Cao Lãnh nổi tiếng trên đường Lê Duẩn (TP Cao Lãnh), ngoài xà lách, rau quế, húng cây, diếp cá, thì đọt bằng lăng, lá cát lồi (trị đau khớp), lá lốt, lá cách hái từ vườn là những thứ “phụ kiện” làm tăng thêm tính hấp dẫn và giúp người ăn cảm thấy ngon miệng hơn.

Bánh xèo Cao Lãnh ăn kèm với nhiều loại rau
Bánh xèo Cao Lãnh ăn kèm với nhiều loại rau

Cây lộc vừng – từ quê ra phố

[vanhoamientay.com] Tuổi thơ tôi trải dài theo những nhánh sông quê, trải dài theo những cây lộc vừng mộc hoang bên triền đê lộng gió, thời đó tôi chẳng biết cây lộc vừng có tên đẹp thế. Tụi nhỏ xóm tôi vẫn gọi cái tên thân quen là cây Chiếc

loc-vung

Tôi vẫn tự hỏi tại sao loại cây mọc hoang mà có hoa đẹp kiêu kỳ đến vậy, cánh hoa trắng tinh khôi, nở thành chùm.

Nét đẹp kiêu sa của hoa lộc vừng
Nét đẹp kiêu kỳ của hoa lộc vừng

Nhớ khi xưa, vào độ tháng 2 âm lịch, khi cây lộc vừng bung nở lá non, người dân quê tôi vẫn hái ăn kèm với cá kho, hay gói bánh xèo, vị chan chát của lá làm bữa ăn thêm lạ miệng, lá lộc vừng non có màu tím, bóng và mọng nước. Cũng nhờ thế, nơi đồng quê xa xôi, thức ăn thiếu thốn, những người lao động có thêm sức sau những bữa cơm ngon với rau rừng.

Trái Lộc Vừng đôi khi có hình thôi và đôi khi có có khía
Trái Lộc Vừng đôi khi có hình thôi và đôi khi có có khía

Cũng có những món ăn được chế biến cầu kỳ hơn, lá lộc vừng non làm gỏi trộn với chanh, đậu phộng . Vì lá non có vị hơi chát nên mỗi khi lộc vừng ra lá, trở thành cái cớ để các mẹ đổ bánh xèo, làm làm món ngon ăn cùng lá.

Hoa lộc vừng đỏ khoe sắc
Hoa lộc vừng đỏ khoe sắc

Lộc vừng có hai loại, hoa màu trắng và hoa màu đỏ, loại cây có hoa màu trắng có hoa to hơn. Tuy nhiêu, loại hoa nào cũng có vẻ đẹp kiêu kỳ đáng tự hào của chúng.

hoa-loc-vung-do-2
Hoa lộc vừng khoe sắc trong nắng. Ảnh: 24h

Bây giờ khi đời sống phát triển hơn, người ta vẫn dần ít ăn dần loại lá ngon một thời này. Không cần ra tận đồng xa hay lên rừng nữa, từ thành phố đến nông thôn có thể đâu đâu ta cũng thấy cây lộc vừng đứng trong sân nhà như một biểu tượng của sự mai mắn, sung túc.

Lộc vừng còn có tên gọi khác là Cây Chiếc
Lộc vừng còn có tên gọi khác là Cây Chiếc

Tuy bị “thuần dưỡng” nhưng đến mùa lộc vừng vẫn thay lá, vẫn cho những đọt non. Nhìn lộc vừng trổ lá non, tôi nhớ về một thời tuổi nhỏ từng băng đồng chăn bò, làm đồng; nhớ về những bữa cơm giữa đồng lúc trời nắng chang chang hay mưa như trút, chỉ có cơm nguội muối vừng và lá cây lộc vừng non; nhớ mẹ tôi với dáng vóc lưng còng, nắm lá lộc vừng trên tay loay hoay chuẩn bị bữa ăn và miệng cứ khen ngon tấm tắc…

Hủ tiếu Pa tê ở Bến Tre

[vanhoamientay.com] Hủ tiếu pa tê là một trong bốn loại hủ tiếu được người dân xứ dừa đặc biệt ưa chuộng. Sự khác biệt của món hủ tiếu này nằm vỏn vẹn trong ba bốn lát pa tê xắt góc tư xếp gọn gàng trên mặt tô.

Hủ tiếu pa tê đi kèm với lòng, chủ yếu là tim, gan, bao tử và phèo non
Hủ tiếu pa tê đi kèm với lòng, chủ yếu là tim, gan, bao tử và phèo non

Người Bến Tre rất ưa hủ tiếu, ưa hơn bất cứ người dân ở miền Tây nào mà tôi biết. Ở đây người ta có thể ăn hủ tiếu tối ngày, từ hủ tiếu chay, hủ tiếu bò viên, hủ tiếu xương heo đến hủ tiếu thập cẩm… Và cũng duy chỉ có ở Bến Tre mới có món hủ tiếu không đụng hàng: hủ tiếu patê.

[adsres]

Pa tê ở đây không phải là loại pa tê gan dùng để phết lên mặt trong bánh mì mà mọi người thường gọi. Pa tê theo cách gọi của người Bến Tre thực chất là một loại “chả” rất đặc biệt: dai giòn sần sật, thơm tho beo béo mà người dân xứ dừa hay làm thủ công đãi trong các bữa tiệc, chung với nhiều loại “đồ nguội” khác. Thành phần của “chả” gồm có lưỡi heo, da đầu, thịt nạc, da heo, mỡ, tiêu hạt, các loại gia vị và được pha trộn với công thức bí truyền nào đó để đạt đến độ dai mà không bở nát, có mùi thơm đặc trưng, ăn hoài không ngán, bó chặt thành từng đòn như bánh tét.

Pa tê theo cách gọi của người Bến Tre là một loại chả, được làm từ thịt, da heo, bó chặt thành từng đòn như bánh tét
Pa tê theo cách gọi của người Bến Tre là một loại chả, được làm từ thịt, da heo, bó chặt thành từng đòn như bánh tét

Trong các dịp đám tiệc ở địa phương, pa tê thịt heo được xắt thành từng lát mỏng, xếp chung với chả lụa, chả da đầu heo, nem chua và ít bánh phồng tôm để làm nên một món riêng mà người quê gọi là “đồ nguội”. Ngoài ra, đây là nguyên liệu chính làm nên món hủ tiếu pa tê mà người Bến Tre đi đâu cũng thèm, cũng nhớ.
Hủ tiếu pa tê là một trong bốn loại hủ tiếu được người dân xứ dừa đặc biệt ưa chuộng (ba loại còn lại là hủ tiếu chay, hủ tiếu bò viên và hủ tiếu mực) và tôi đoan chắc rằng, chỉ ở Bến Tre mới có loại hủ tiếu này. Hủ tiếu Bến Tre nói chung và hủ tiếu pa tê nói riêng khác với hủ tiếu Sài Gòn trước hết ở sợi bánh. Sợi hủ tiếu khô và dai, khi có khách gọi chủ quán mới thoăn thoắt kéo lấy một vắt cỡ nắm tay, trụng sơ trong nước sôi chừng một phút cho nở mềm vừa ăn rồi mới cho ra tô.
Sự khác biệt của hủ tiếu pa tê nằm vỏn vẹn trong ba bốn lát pa tê xắt góc tư xếp gọn gàng trên mặt tô. Nước dùng có ngọt đến mấy, sợi bánh có dai đến mấy mà miếng pa tê không vừa miệng thì coi như thất bại. Cái ngon của hủ tiếu pa tê chính là sự hòa quyện giữa các thành phần, để thực khách phải vừa xì xụp húp muỗng nước lèo thơm ngọt, vừa hít hà cắn miếng pa tê dai dai, giòn giòn mới chấm vào dĩa nước mắm trong dầm ớt.

Món hủ tiếu pa tê mà người Bến Tre đi đâu cũng thèm, cũng nhớ
Món hủ tiếu pa tê mà người Bến Tre đi đâu cũng thèm, cũng nhớ

Một tô hủ tiếu với ba hoặc bốn lát pa tê đối với nhiều người dường như chưa “tới”, ăn đến miếng pa tê cuối cùng rồi mà còn cảm giác thòm thèm nên kêu thêm vài lát chả không đem về nhà. Đặc biệt, nhà nào có trẻ con thì mấy lát pa tê chính là món ăn vặt ưa thích của chúng.
Trước đây hủ tiếu pa tê chỉ đơn thuần có hủ tiếu và pa-tê, thỉnh thoảng có thêm vài lát thịt nạc. Nhưng ngày nay, để nồi nước dùng thêm đậm đà và cũng để thực khách có nhiều sự lựa chọn hơn, người ta có pa tê đi kèm với lồng, chủ yếu là tim, gan, bao tử và phèo non. Một tô hủ tiếu pa tê với đầy đủ tất cả các nguyên liệu ấy giá chỉ từ 25.000-30.000 đồng.

Người Bến Tre rất ưa chuộng hủ tiếu
Người Bến Tre rất ưa chuộng hủ tiếu

Hủ tiếu pa tê ở Bến Tre nổi tiếng như vậy nhưng vốn không phải là món bán đại trà. Người Bến Tre sành ăn chỉ đến đúng quán chính gốc mà người ta quen gọi là hủ tiếu “ngã ba Tháp” hay hủ tiếu “cổng chào”.

Quán hủ tiếu “ngã ba Tháp” hay hủ tiếu “cổng chào” là quán hủ tiếu Pa tê chính gốc
Quán hủ tiếu “ngã ba Tháp” hay hủ tiếu “cổng chào” là quán hủ tiếu Pa tê chính gốc

Khách ở nơi xa đến Bến Tre, muốn thưởng thức hủ tiếu pa tê “chính gốc”, cứ vào thành phố rồi nhắm người nào đó cũng được, hỏi thăm quán hủ tiếu ở “ngã ba Tháp”, hủ tiếu “cổng chào” hay hủ tiếu “công viên tượng đài”, chắc chắn ai cũng rành, chỉ cho bạn vanh vách. Quán không có tên riêng mà lấy luôn tên là “Hủ tiếu pa tê” như một cách khẳng định thương hiệu, chỉ bán buổi chiều tối nên cứ tầm 5, 6 giờ chiều là bắt đầu tấp nập khách ra vào.
Nếu có dịp đến Bến Tre, nhớ tìm quán hủ tiếu patê mà thử qua một lần, cam đoan bạn sẽ nhớ mãi hương vị đặc biệt của thức ăn đặc biệt này.

Ao Bà Om đang khô cạn dần

[vanhoamientay.com] Ao Bà Om, hay là Ao Vuông, là một thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh, nhưng đang đối mặt với tình trạng khô cạn nước nghiệm trọng.

Ao Bà Om được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1994, là nơi tổ chức các lễ hội hằng năm của đồng bào dân tộc Khmer như Chol-Chnam-Thmay, Dol-ta, Ok-om-bok… Đây là một địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Trà Vinh, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan mỗi năm.

Ao Bà Om được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia
Ao Bà Om được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia

Nước trong ao luôn trong vắt với hàng sen xanh mướt, nhiều sinh vật và động vật trú ngụ, tạo môi trường sinh thái hết sức hài hòa, trong lành. Xung quanh ao là những cây cổ thụ hàng trăm tuổi nên tạo cảm giác như đây là Đà Lạt thứ 2.

Nước trong ao luôn trong vắt với hàng sen xanh mướt, nhiều sinh vật và động vật trú ngụ, tạo môi trường sinh thái hết sức hài hòa, trong lành
Nước trong ao luôn trong vắt với hàng sen xanh mướt, nhiều sinh vật và động vật trú ngụ, tạo môi trường sinh thái hết sức hài hòa, trong lành

Thế nhưng ở thời điểm hiện nay, Ao Bà Om đang ở trong tình trạng hoang tàn, xơ xác nhât, toàn bộ khu vực Ao Bà Om (có diện tích khoảng 1.500 m2) này đã khô cạn đến trơ đáy, có nhiều điểm đất bị nứt nẻ, những con cá trong ao còn sống sót đang thoi thóp, những cành sen đã khô héo chờ… giải cứu .

Ở thời điểm hiện nay, Ao Bà Hom đang ở trong tình trạng hoang tàn, xơ xác nhât
Ở thời điểm hiện nay, Ao Bà Hom đang ở trong tình trạng hoang tàn, xơ xác nhât

Nơi đây từ lâu thu hút khách du lịch trong và ngoài tỉnh đến tham quan, ngắm cảnh. Theo những người dân, Ao Bà Om quanh năm nước trong veo; vào mùa khô chỉ hơi cạn. Năm nay, lần đầu tiên ao cạn trơ đáy, đất nứt nẻ như đồng ruộng. Hiện tại nhiều khóm sen đã chết nhường chỗ cho cỏ, rau đắng mọc bên những khe nứt dưới đáy hồ, nhiều nơi xung quanh đất nứt nẻ chỉ còn những nơi sâu nhất có nước lấp xấp. Chỉ cần khô hạn vài ngày nữa coi như ao chẳng còn giọt nước nào.

Ao Bà Om đang khô cạn dần
Ao Bà Om đang khô cạn dần

Ao Bà Om là di tích lịch sử, là nơi gắn liền với truyền thống với các lễ hội của người dân sống quanh đây, vì vậy cần có các cơ quan chức năng cần có biện pháp thiết thực đế giải cứu…

trai-quach

Lạ vị trái quách xứ Trà Vinh

[vanhoamientay.com] Tây Nam Bộ nỗi tiếng là vùng đất cây lành trái ngọt, mỗi một vùng miền, mỗi một vùng đất có một loại đặc sản khác nhau, như Quýt đường của cái Bè, vú sữa lò rèn ở Vĩnh Kim, còn mảnh đất Trà Vinh lại nổi tiếng với trái quách.

Trái quách là một đặc sản của vùng đất Trà Vinh
Trái quách là một đặc sản của vùng đất Trà Vinh

Nếu bạn là một người thích hoài cổ, một người thích ngược dòng ký ức để tìm về với những món ăn dân giã, với những đặc sản vùng miền thì bạn nên ghé thăm một lần mảnh đất Trà Vinh, để thưởng thức những món ăn làm từ trái quách.

[adsres]

Trái quách – đặc sản của huyện Cầu Kè, Trà Vinh

Trái quách còn có khác là cây Gáo, trái quách có vẻ ngoài giống trái cám, da nhám có màu xám trắng. Người Khmer ở huyện Cầu Kè thích trồng cây này dọc con đê, quanh nhà hay xem cùng các cây ă trái.

Cây cao khoảng 7- 8 mét, lá nhỏ, nhánh có gai giống như cây cần thăng. Cây trồng khoảng 7 năm thì cho trái, cây càng lâu năm trái càng nhiều. Tháng chạp, tháng giêng âm lịch là mùa quách chín.

Giống như trái sầu riêng, quách bắt đầu chín thì tự rụng. Dù rơi từ trên cao xuống nhưng quách không giập vỡ vì vừa chớm chín, trái còn cứng.

Trái quách là một đặc sản của vùng đất Trà Vinh
Trái quách là một đặc sản của vùng đất Trà Vinh

Khi trái quách khi chín, trái tỏa mùi hương thơm ngát rất đặc trưng. Dù không giống mùi thơm trái thị nhưng nó cũng quyến rũ khứu giác nhiều người. Để thêm chừng vài ba ngày hoặc tuần lễ thì quách chín rục, vỏ trái có màu bạc trắng, mềm, chỉ cần cầm dao xẻ nhẹ đã thấy những hột nhỏ li ti như hạt lưu sậm một màu tím, hạt ăn giòn.

Đối với phụ nữ thì món quách trộn cùng mắm hay dầm đá đường là món ăn giải nhiệt số một được mọi người yêu thích, còn đối với cánh mày râu quách ngâm rượu thì đã trở thành đặc sản.

Để dầm nước đá đường, chỉ cần nạo ruột trái cho vào ly đánh nhừ. Cho đường cát và nước đá bào vào, ta sẽ được một món giải nhiệt ngày hè tuyệt hảo và đáng nhớ.

Vị chua chua, ngọt ngọt của trái quách sẽ đánh bay cái oi bức của mùa hè
Vị chua chua, ngọt ngọt của trái quách sẽ đánh bay cái oi bức của mùa hè

Quách dầm đá

Múc một muỗng quách cho vào miệng, mùi thơm của quách phảng phất lên cánh mũi, vị chua thanh làm mặt lưỡi tê mê. Vị ngọt của đường, vị béo của sữa lan thấm khắp vòm họng, thật là dễ chịu. Nhưng sảng khoái nhất là khi thưởng thức trái quách vào những trưa hè oi bức. Vị chua của quách khiến cái nóng của mặt trời nhanh chóng biến đi.

Ngoài làm đá dầm, trái quách còn ăn kèm với mắm và ngâm rượu rất ngon
Ngoài làm đá dầm, trái quách còn ăn kèm với mắm và ngâm rượu rất ngon

Rượu quách

Ở Cầu Kè, người ta còn chế biến quách thành một loại rượu được coi là đặc sản. Vì, uống rượu này sẽ thưởng thức hương vị thơm đặc trưng của quách mà còn có lợi cho những người bị cao huyết áp, đau nhức, bổ thận… Muốn có rượu thuốc này, người ta dùng muỗng cạo lấy cơm trái quách ngâm trong hũ rượu nếp hoặc rượu gạo nguyên chất. Để có rượu ngon hơn, người ta bổ trái quách thành vài ba mảnh, ngâm rượu. Nhưng, theo nhiều người sành rượu thì đục vài ba lỗ trên vỏ trái quách rồi thả vào hũ rượu. Theo họ, ngâm như vậy sẽ có nước rượu trong, không đục như hai cách trên.