Nón lá, tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ Việt

[vanhoamientay.com] Nón lá là biểu tượng cho sự dịu dàng, mộc mạc của người phụ nữ, đất nước con người Việt Nam.

Nón lá là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam
Nón lá là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam

Trên khắp mảnh đất mang hình chữ S, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh chiếc nón lá ở bất cứ nơi đâu. Tuỳ vào mỗi vùng miền sẽ có cách làm nón khác nhau để phù hợp, nhưng nhìn chung mọi sự sáng tạo đều dựa trên một cách làm thủ công truyền thống và ý nghĩa tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ Việt.

Nón lá, áo bà ba làm cô gái Nam Bộ thêm dịu dàng, nữ tính
Nón lá, áo bà ba làm cô gái Nam Bộ thêm dịu dàng, nữ tính

[adsres]

Tôi lớn lên tại một miền quê nghèo Nam Bộ, hình ảnh chiếc nón lá – khăn rằn – áo bà ba đã in sâu vào tâm khảm tuổi thơ và trở thành hành trang bước vào đời.
Phải nói rằng khăn rằn – nón lá – áo bà ba đã trở thành một liên kết tạo nên biểu trưng hoàn mỹ nhất cho vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết của người phụ nữ Nam Bộ… Chính vì thế từ trong thực tế cho đến những làn điệu dân ca, lời thơ, câu văn đều có bóng dáng nón gắn liền với người con gái Việt dịu dàng, gắn liền với người mẹ tảo tần mưa nắng.

Nón lá theo chân người nông dân ra đồng, nón theo chân người đẹp tham gia những cuộc thi nhan sắc quốc tế
Nón lá theo chân người nông dân ra đồng, nón theo chân người đẹp tham gia những cuộc thi nhan sắc quốc tế

“Quê hương là cầu tre nhỏ,
Mẹ về nón lá nghiêng che”

Chiếc nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào đời nhà Trần, khoảng thế kỉ thứ 13. Từ đó đến nay, nón luôn gắn bó với người dân Việt Nam như là hình với bóng.
Nón lá không kén người dùng, không phân biệt giới tính, không phân biệt giàu, nghèo, già trẻ đều có thể đội. Nón ra đồng với nông dân, nón cùng với người lính thú xông pha ngoài chiến trận, nón theo tài tử giai nhân đi trẩy hội, nón theo cung phi vào cung cấm, nón theo các nàng công chúa, các bà hoàng đi chùa cầu duyên cầu tự, nón trên đầu những người lao động. Nó âm thầm lặng lẽ hiện diện trong cuộc sống của người Việt.
Phải chăng như vậy mà nón đã từ lâu trở thành biểu tượng cho đất nước con người Việt Nam?

Không phân biệt vùng miền, nón lá có mặt trên khắp mảnh đất mang hình chữ S
Không phân biệt vùng miền, nón lá có mặt trên khắp mảnh đất mang hình chữ S

Trong đời sống hằng ngày, nón là một đồ dùng rất “thực dụng”.
Nón lá ở nước ta dù có nhiều loại, song nét đặc thù chung là rộng vành để che mưa, che nắng và có mái dốc để thoát nước mưa nhanh. Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm…
Trong những năm chiến tranh, tiễn người yêu ra chiến trường, các cô gái thường đội nón với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận…

Đẹp thay chiếc nón quê hương
Đẹp thay chiếc nón quê hương

Ngoài điều đó, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt là đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức, người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo.
Giữa kênh rạch, sông nước chằng chịt miệt vườn Nam Bộ, dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, những sợi tóc mai của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ… khiến ai đó đã phải ngẩn ngơ.

Đẹp dịu dàng cô nữ sinh Đồng Khánh - Huế
Đẹp dịu dàng cô nữ sinh Đồng Khánh – Huế

Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.Trong chiếc nón bài thơ có biểu hiện những nét đẹp của cả một vùng văn hoá, người phụ nữ Huế khi ra đường, trang phục nhất thiết phải là chiếc áo dài và chiếc nón lá để đội đầu. Dù trời sáng sớm hay im mát, chiếc nón như là vật bất ly thân.

“Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng”

Chiếc nón lá theo người nông dân ra đồng, cùng tham gia quá trình lao động cho mùa màng bội thu, khi trời tắt gió, nón dùng để quạt cho mát, khi lật ngửa, dùng đựng mớ rau mới hái ngoài đồng, ít trái cây, múc nước…
Ngày nay, chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng của người Việt trong mắt của bạn bè quốc tế. Nón lá luôn được dành vị trí trong hành lí của các du khách khi đến Việt Nam.

Nón lá ra đồng
Nón lá ra đồng

Chiếc nón lá đâu chỉ là vật tiện dụng mà còn là nét đẹp thầm kín của văn hóa Việt, sẽ còn tồn tại mãi dù cuộc sống có đổi thay, hiện đại đến đâu, chiếc nón lá vẫn sẽ mãi là người bạn của người Việt.
Tôi chắc thế.

Advertisements

Cách làm mứt dừa dẻo ngọt ngày Tết

[vanhoamientay.com] Mứt dừa – Phải công nhận, mứt dừa là loại mứt rất quen thuộc trong Nam, quen thuộc đến độ khi nhắc đến tên nhiều người sẽ nghĩ ngay đến Tết, nhớ đến ngay hương vị của món ăn. Đó là vị béo vừa phải của dừa, vị ngọt của đường, sữa, mùi thơm từ vani.

mut-dua-500x313
Kể đến chuyện mứt Tết, chẳng ai bỏ quên được mứt dừa thơm bùi, dễ chế biến chiều lòng tất cả mọi người, nhất là những cô nàng hảo ngọt. Có lẽ vì thế mà thời gian gần đây, thay vì mua mứt làm sẵn nhiều người đã tự tay làm món trong dịp Xuân về.
Tuy nhiên, để được món mứt dừa ngon, dẻo và ngọt vừa phải, thì không phải ai cũng có thể làm được.
Cách chọn nguyên liệu làm mứt dừa dẻo, ngọt:
– Cơm dừa (còn gọi là cùi dừa): 1kg
– Đường: 500g
– Sữa đặc: 1 muỗng
– 1 ống vani
Để có món mứt ngon, khâu chọn nguyên liệu vô cùng quan trọng, dừa làm mứt phải là dừa bánh tẻ, tức là cơm dừa không quá già, cũng không quá non. Nếu cơm dừa già sẽ khó nạo mứt lại sẽ khô, còn dừa non quá rất khó sên, hay bị nát. Chọn cơm dừa bánh tẻ, mứt sẽ ngon và dẻo hơn. Bạn có thể quan sát, loại cơm dừa bánh tẻ sẽ có phần vỏ sát bên ngoài màu nâu nhạt. Dùng tay bấm thử vào thấy hơi mềm. Còn cùi dừa đã già thì vỏ sát cùi có màu nâu sẫm và cứng.

com-dua-lam-mut-dua-500x313.jpg
Dừa sau khi mua về mà lớp vỏ chưa bóc tách thì mẹo này sẽ giúp bạn tách dễ dàng: Cho dừa lên bếp và hơ qua vỏ hoặc cho dừa vào lò nướng 20 phút ở mức nhiệt 110 độ C. Nếu bạn không có nhiều thời gian hoặc chưa có kinh nghiệm bạn có thể mua những quả dừa đã được bóc sẵn vỏ trong siêu thị hay ngoài chợ.
Cách thực hiện làm mứt dừa dẻo, ngọt:
Gọt sạch lớp vỏ sát bên ngoài
Bổ đôi quả dừa ra và bắt đầu bào theo chiều ngang (theo vành ngang vừa cắt) để được sợi dài và mỏng. Sau khi bào xong, bạn nên rửa vài lần và ngâm vào nước sạch trong khoảng 12 – 14 giờ để loại bớt dầu dừa. Tiếp tục vớt cơm dừa ra và rửa với nước sạch thêm 2 – 3 lần cho hết hẳn dầu và để ráo nước. Bạn cũng có thể ngâm cùi dừa vào nước ấm trên 50 độ để khử dầu dừa nhanh và tiết kiệm thời gian.

com-dua-500x313
Khi cơm dừa đã khô ráo nước, bạn trộn đường vào, để dừa ngấm đường hơn bạn nên ướp qua đêm hoặc chờ đến khi đường tan và thấm hết vào sợi dừa. Lúc đó sợi dừa đã chuyển sang màu trắng trong. Bạn có thể thêm sữa, chỉ cần một chút sữa đủ để làm món này thơm và dậy mùi hơn là được.
Tiếp theo, dùng một cái chảo to, dày, bật lừa thật to để làm nóng chảo trước, khi cảm thấy chảo đã bắt đầu nóng thì đổ hỗn hợp cơm dừa vào, chỉnh lửa nhỏ lại và đảo liên tiếp, sên nhẹ nhàng tránh đứt gãy sợi và khê, vón cục đường. Cho một ít vani vào để mứt được thơm hơn.

sen-mut-dua
Khi thấy có phấn trắng bám lên sợi dừa và sợi dừa dần tách rời nhau bạn cho ít vani để tạo mùi thơm cho món mứt sau đó, bạn tắt bếp và đảo thêm một chút cho nguội hẳn. Sau đó trải mứt ra 1 cái mâm, khi mứt nguội thì cất vào lọ kín để bảo quản.
Thật đơn giản và dễ làm nhưng nó cũng không kém phần công phu để có món mứt dừa ngon và dẻo mà không chỉ trẻ em mà người lớn đều thích. Các bạn hãy thử làm món mứt dừa này vào dịp Tết 2017 này nhé. Ngoài ra, VHMT mách bạn cách tạo màu đơn giản cho món mứt thêm hấp dẫn hơn.

mut-dua-ngon-500x313
* Cách tạo màu cho mứt dừa:
Thường thì mứt dừa có màu trắng nguyên thuỷ, bạn cũng có thể tạo thêm màu cho mứt hấp dẫn hơn nhất là đối với các bạn nhỏ. Bạn có thể tạo màu đỏ cho mứt từ quả gấc, màu cam từ cà rốt, màu tím từ bắp cải tím…

mut-dua-ngay-tet-500x313
Cách làm tương tự như hướng dẫn trên chỉ cần bạn chú ý vài điểm sau:
Cho phần cơm dừa đã rửa sạch vào nước rau củ và ướp trong khoảng 4-5 tiếng cho dừa ngấm màu. Ở đây chúng ta sẽ bỏ qua công đoạn ướp đường. Cho cơm dừa ướp màu và đường vào thẳng chảo, đun cho đến khi đường tan thì cho dừa vào sên. Lúc đầu để ở mức lửa trung bình, khi nước đường sôi thì hớt bọt nếu có, thỉnh thoảng dùng đũa đảo đều. Khi nước đường cạn chỉ còn sền sệt thì hạ lửa nhỏ liu riu, lúc này dùng đũa đảo đều liên tục để đường kết tinh bám đều vào dừa. Vậy là bạn đã có món mứt dừa với màu sắc mình yêu thích. Chúc các bạn thành công.

cach-lam-mut-dua-500x313

Bánh lá dừa – kí ức tuổi thơ trở thành đặc sản

[vanhoamientay.com] Bánh lá dừa – miếng nếp dẻo, béo thơm vị cốt dừa nằm trọn trong chiếc lá dừa cuốn tròn như chiếc lò xo đã đi sâu vào ký ức tuổi thơ của những đứa con vùng đất Tây Nam Bộ, qua năm tháng món quà tuổi thơ ấy đã trở thành đặc sản của Vùng.

banh-la-dua
“Mời anh mua bánh lá dừa
Bánh này em gói nếp mùa thiệt ngon.
Anh mua về đãi bà con
Bánh em nóng hổi ngọt ngon hơn đường.”

Tên của các loại bánh ở miền Tây quê tôi dễ nhớ lắm, cứ hễ bánh có nét đặc trưng gì hay nguyên liệu làm bằng gì thì bánh sẽ có tên đó, như bánh chuối hay bánh lá dừa.
Trong chiếc lá dừa cuộn tròn như chiếc lò xo là miếng nếp dẻo thơm cùng nước cốt dừa béo ngọt, nguyên liệu để làm bánh này không quá cầu kỳ, gồm nếp dẻo, đậu xanh, cơm dừa nạo và chuối để làm nhân.

banh-la-dua-1
Không biết từ khi nào, cùng với bánh tét, bánh ít, bánh ú, bánh lá dừa đã trở thành loại bánh đặc trưng mang hương vị của mảnh đất trĩu nặng phù sa này. Không quá cầu kỳ, song bánh lá dừa lại làm vừa lòng người ăn bởi sự hòa quyện tuyệt vời của nhiều nguyên liệu.

Bánh lá dừa có mặt ở hầu hết các tỉnh miền Tây, nhưng để gọi là thủ phủ của chiếc bánh có lớp vỏ làm từ cánh lá dừa này thì phải là xứ dừa Bến Tre. Khi có dịp đến với miền Tây, bạn sẽ có dịp thưởng thức những chiếc bánh lá dừa vừa mang vị bùi của đậu, vị ngọt của chuối và thoang thoảng đâu đó mùi thơm nhẹ dịu của lá dừa quyện vào vị béo của nước cốt dừa, của nếp làm bạn sẽ nhớ mãi không quên.

banh-ladua-2
Đúng như tên gọi, loại bánh này được dùng đọt lá dừa non, hoặc đọt cà bắp – đọt dừa nước non chưa nở thành tàu lá để gói bánh. Lá dừa được chọn làm bánh phải hơi non, mềm, thì bánh dừa mới thơm và màu đẹp, ngoài chọn lá, khâu chọn nếp cũng vô cùng quan trọng, loại được chọn là nếp dẻo, hạt mẩy, căng tròn, đem vo sạch, ngâm qua đêm cho ngấm nước.
Đậu xanh cũng được ngâm cho tróc vỏ, đãi sạch. Dừa khô, không quá già được nạo lấy cơm, vắt thành thứ nước cốt đặc sánh, dậy mùi thơm, béo ngậy rồi trộn cùng gạo nếp, đảo sơ qua cho thấm. Nhiều người còn thêm chút đậu đen trộn cùng với nếp để tăng thêm độ thơm của bánh.
Tùy vào sở thích của mỗi người mà có nhiều loại nhân khác nhau như dừa hay chuối. Thường người ta dùng cơm dừa nhuyễn rồi trộn cùng đậu xanh, đem nấu nhừ, thêm hành lá, một chút muối cho đậm vị rồi vo thành từng nắm để làm nhân. Hay đơn giản hơn, người ta dùng chuối cắt làm hai phần, ướp thêm chút đường làm nhân bánh cũng rất ngon.

banh-a-dua-3
Khi gói bánh, không được chặt tay quá vì bánh sẽ không chín đều. Còn nếu lỏng tay, bánh sẽ bị ngấm nhiều nước, nhão, ăn không ngon. Trước khi cho vào nồi bánh được cột chặt thành từng chùm. Mỗi chiếc bánh dài gần gang tay, to bằng quả dưa leo, bánh chuối cột dây xanh, nhân đậu cột dây vàng để dễ phân biệt. Người ta thường cho thêm một lớp lá dừa phía dưới nồi khi luộc để bánh không bị cháy, lại thoang thoảng mùi thơm của lá dừa tươi thấm vào trong nếp.

Bánh lá dừa được dùng nóng hay nguội tùy vào sở thích mỗi người. Bánh khi ăn có vị mặn nhẹ của muối, vị béo của dừa, cái dẻo của nếp, cái bùi của hạt đậu kết hợp với cái riêng của từng loại nhân cùng hương nếp thơm. Tất cả hòa quyện vào nhau làm cho người ăn cảm nhận được hương vị tao nhã và mộc mạc của bánh.

banh-dua-4
Bánh lá dừa sau khi nấu được vớt ra treo cho ráo nước. Do được gói kín, bánh có thể để lâu được 2-3 ngày mà không bị hỏng. Với giá bán khá mềm, chỉ khoảng 5,000đ mỗi cái, bánh lá dừa miền Tây nói chung và Bến Tre nói riêng đã trở thành món quà quê bình dân dễ mua, dễ ăn mà lại ngon. Khi ăn bạn sẽ cảm nhận được vị đậm đà, béo của dừa, vị thơm của nếp dẻo, bùi của đậu kết hợp với từng loại nhân tạo thành món ăn không thể quên. Không chỉ được bày bán, bánh lá dừa còn được làm tại nhà. Cứ thấy thèm thèm là lũ trẻ theo tía má đi chặt tàu lá dừa về làm vỏ bánh, rồi ngâm nếp ngâm đậu, soạn cái nồi thật to bắc lên bếp chuẩn bị ngồi chờ. Từ những kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu, bánh lá dừa đã trở thành món ăn của ký ức của rất nhiều người con miền Tây.

Đẩy côn mùa nước tràn đồng

[vanhoamientay.com] Đẩy Côn – Giàn Côn là công cụ mà người dân Vùng Trũng Đồng Tháp Mười quê tôi mưu sinh vào mùa nước tràn đồng, chẳng biết nghề này có từ khi nào, chỉ biết người dân nơi đây xem đẩy côn là một nghề thực thụ suốt 20 năm qua.

Đẩy côn mùa nước nổi

Lũ về, nước trắng xoá một vùng, mang theo phù sa bồi thêm cho đất và mang theo biết bao cá tôm hào sảng, tạm gát lại công việc đồng án, người dân quê tôi bắt tay vào một mùa mưu sinh mới, mùa đẩy côn bắt cá lóc đồng.

Nếu có dịp về với Vùng trũng vào mùa nước nổi, thưởng thức con cá lóc đồng nướng trui thơm phức, ngọt lịm, bạn có bao giờ thắc mắc những người nông dân dùng công cụ gì để bắt cá không?
Bạn sẽ cảm thấy vô cùng thú vị khi biết được suốt 20 năm qua người dân “săn” cá lóc trên những cánh đồng tràn nước là bằng đẩy Côn…

danh bat ca dong
Đẩy Côn là công cụ không những giúp người dân mang lại nguồn kinh tế cao, mà còn góp phần bảo vệ nguồn sinh thái, chỉ bắt cá trưởng thành không bắt cá nhỏ như các công cụ khác.
Hiểu một các nôn na giàn côn là công cụ khua nước, khi chạm vào côn cá giật mình chúi xuống bùn, người dân sẽ quan sát vị trí cá chúi nhờ tim nước rồi dùng nơm bắt.
Côn được làm bằng những cọng sắt to bằng ngón tay út, có độ dài 1,5 m; một đầu côn được buộc vào một sợi dây nilông và được nối liền lại với nhau thành một hàng “rào sắt”, có khoảng cách từ 20 – 30 cm. Chọn hai cây tre dài, thẳng làm luồng côn, hai luồng côn được xếp theo hình chữ V đặt mở mũi xuồng. Mỗi luồng côn có chiều dài từ 12 – 15m. Để giữ cân bằng hai luồng côn cũng như điều chỉnh hai luồng côn cao hay thấp phụ thuộc vào cột trụ dựng đứng, có chiều cao khoảng 3 – 4 m để gánh hai luồng côn.

đẩy côn là hình thức đánh bắt hiệu quả
Khi bắt đầu đẩy côn, người ta chỉ cần mắc các côn vào luồng côn và điều chỉnh luồng côn cho phù hợp với mực nước. Sau đó người đẩy côn lên xuồng dùng xào đẩy xuồng đi tới. Khi đó, luồng côn cũng được kéo theo và cá va chạm với các côn sẽ chúi xuống đất, tạo thành bong bóng nước nổi lên mặt nước. Lúc này, người đẩy côn, chỉ việc dùng nơm bắt cá.

Đẩy côn thường bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng, còn buổi chiều là khoảng 15 giờ, vì thời gian này nhiệt độ thấp, cá mới lên ruộng nhiều. Theo người dân vùng lũ, trong các loại hình đánh bắt cá thì dùng côn khá đơn giản, không tốn nhiều chi phí đầu tư nhưng hiệu quả, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân miền Tây. Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được, vì để “săn” cá lóc đồng bằng đẩy côn cũng đòi hỏi phải có sức khỏe để lội trên đồng ruộng ngập nước, dầm mưa dãi nắng gần như suốt cả buổi. Đặc biệt, phải có tài quan sát bong bóng nước của cá, làm được điều này chỉ có những người nông dân tay lắm chân bùn sống giữa vùng sông nước, am hiểu tập tính của cá.

nom bắt cá.jpg1
Mùa nước nổi cá về lũ lượt, đẩy côn là một nghề giúp người nông dân vùng lũ mưu sinh, đẩy côn không chỉ bắt được cá lóc mà còn bắt được cá trê, cá rô đồng, sống giữa thiên nhiên, chúng không to con, có nhiều kích cỡ, nhưng thịt thơm mềm có vị ngọt hậu là thứ đặc sản đồng quê giản dị mà đậm đà hương vị đến một cách kì lạ.

Đẩy côn không chỉ là công việc, hay dụng cụ bắt cá là đúng nghĩa hơn là “nghề”, nghề “săn” cá lóc đồng bằng đẩy côn xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng đặc biệt là tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang và Vĩnh Long… Khi nước lũ về, những cánh đồng tràn nước trắng xóa, nghề đẩy côn của người dân vùng lũ miền Tây bắt đầu hoạt động nhộn nhịp.

kết hợp côn và nơm
Cảm ơn những con nước về đã mang đến quê hương vùng trũng biết bao hào sảng, mang đến nét văn hoá đặt trưng chỉ có riêng ở Vùng, mang đến một miền ký ức vô cùng đẹp cho người con xa xứ như tôi.

banh-khot-mien-tay

Bánh Khọt miền Tây

[Vanhoamientay.com] Bánh khọt là một loại bánh làm từ bột gạo khá phổ biến ở miền tây, là món ăn ngon hấp dẫn được nhiều người yêu thích.

Bánh khọt món ăn phổ biến của con người miền tây
Bánh khọt món ăn phổ biến của con người miền tây

Bánh khọt là loại bánh có từ lâu đời, có mặt ở khắp đất nước, thế nhưng mỗi vùng lại có cách làm bánh khọt khác nhau, mang đậm hương vị của từng vùng.

Bánh khọt có hình tròn giống như bánh bèo, nhưng làm chín bằng cách chiên trong khuôn có dầu tương tự bánh xèo. Công đoạn pha bột là vô cùng quan trọng vì nước nhiều bột sẽ dễ vỡ trong quá trình chiên, nếu thiếu nước bánh sẽ bị cứng không còn độ dai.

Sau đây là cách làm bánh khọt mang đậm hương vị miền tây của người Cần Thơ:

Nguyên liệu:

– Bột gạo: 1kg
– Bột nghệ: 100gr
– Thịt nạc xay: 400gr
– Tôm tươi: 300gr
– Trứng vịt: 3 quả
– Dừa nạo: 500gr
– Đậu xanh hấp chín: 300gr
– Cà rốt, củ cải trắng: mỗi loại 1 củ
– Hành lá, hành tây, hành tím
– Tiêu, đường, muối, bột ngọt
– Chanh, ớt, nước mắm
– Rau sống: cải xanh, xà lách, rau sống, rau thơm cá.

Bánh khoạt là một trong những loại bánh đặc sản của miền Tây
Bánh khoạt là một trong những loại bánh đặc sản của miền Tây

Cách làm bánh khọt chuẩn miền tây:

* Sơ chế:

+ Khuôn bánh khọt nếu mới mua về thì nên xử lý qua bằng cách cho khuôn lên bếp để nóng, thoa dầu ăn xung quanh khuôn liên tục 5-10 phút, nhờ thế khi đổ bột bánh thì bột sẽ không bị dính trong khuôn. Sử dụng ít vải mùng quấn quanh chiếc đũa dùng để thoa dầu ăn mỗi khi đỗ bánh.

Khuôn bánh khọt phải được xử lý sạch, thoa dầu xung quanh để đổ bánh không bị dính
Khuôn bánh khọt phải được xử lý sạch, thoa dầu xung quanh để đổ bánh không bị dính

+ 500gr dừa nạo vắt lấy nước cốt 500ml (1/5 cho vào hỗn hợp nhân, 4/5 còn lại cho vào bột bánh). Tôm tươi làm sạch cắt hạt lựu hoặc khoanh tròn.
+ Cà rốt và của cái trắng cắt sợi mỏng, bóp với ít muối, rửa sạch, vắt cho ráo. Đậu xanh để vỏ hay bỏ vỏ tùy ý thích, đem luộc vừa chín. Hành tây cắt hạt lựu. Hành tím thái mỏng. Hành lá xắt khúc nữa phân.

* Các bước thực hiện:

 Bước 1:

Trộn bột bánh bèo, hành lá, trứng, 400ml nước cốt dừa vào trong nước ấm. Khuấy đều để bột không bị vón cục, để nguyên bột nghĩ khoảng 15 phút.

Cách pha bột bánh khọt khá giống cách pha bột bánh xèo
Cách pha bột bánh khọt khá giống cách pha bột bánh xèo

Bước 2:

Bắc chảo lên bếp, đun nóng dầu ăn, phi thơm hành tím, sau đó cho thịt nạc dăm, tôm tươi, đậu xanh hấp chín tới, hành tây vào xào sơ qua, nêm nếm gia vị cho vừa ăn rồi cho thêm nước cốt dừa, trộn đều.

Bước 3:

Đặt khuôn bánh lên bếp, tráng dầu ăn vào từng khuôn sau đó đổ bột vào, cho nhân vào giữa rồi đậy nắp vung lại.
Khi thấy bánh trở vàng, nhân màu nâu đỏ, hành lá trong mỡ dầu bám vào tạo thành màu vàng xanh thì bánh chín, nhanh tay lấy bánh ra khỏi khuôn.

Bánh khọt chính có màu vàng ươm thật đắc mắt
Bánh khọt chính có màu vàng ươm thật bắt mắt

Bước 4:

Bánh Khọt cũng không thể thiếu đồ ăn kèm và nước chấm. Món ăn kèm với bánh Khọt tùy từng địa phương mà khác nhau: có nơi là dưa leo muối, có nơi là rau thơm, xà lách…
Nước chấm trong món bánh Khọt là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hương vị. Cái này tùy vào từng người pha chế và cũng tạo nên đặc trưng riêng cho từng quán ăn.

Làm nước chấm giã nhuyễn tỏi, ớt, đỗ đường vào nước và khuấy đường cho tan hết. Cho thêm nước cốt chanh, nước mắm, tỏi, ớt vào khuấy đều.
Bánh Khọt ngon phải là những chiếc bánh vừa giòn vừa dai. Còn tôm lột và hành lá làm tăng thêm hương vị và dinh dưỡng cho món bánh.

Cắn miếng bánh Khọt vàng ươm, cảm nhận hương vị bột gạo nguyên chất, thấy cái béo ngậy của dầu mỡ thấm lên vỏ bánh, mùi hành lá, vị đậm đà của tôm lột,

Không gì tuyệt bằng thưởng thức món bánh Khọt, trong buổi chiều với cơn gió nhè nhẹ mang vị dân dã của miền Tây.

tau-hu-ky

Làng nghề tàu hủ ky Mỹ Hòa – Bình Minh

[vanhoamientay.com] Tàu hủ ky Mỹ Hòa là làng nghề truyền thống nổi tiếng của vùng đất Bình Minh – Vĩnh Long, đã tồn tại gần một thế kỷ, hiện có khoảng 34 hộ gia đình vẫn theo nghề. Và năm 2013 làng nghề đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu tập thể “Tàu hủ ky Mỹ Hòa – Bình Minh”.

Tàu hủ ky cuộn thịt là một trong những món ăn hấp dẫn
Tàu hủ ky cuộn thịt là một trong những món ăn hấp dẫn

Khi nhắc đến tàu hủ ky nhiều người mặc định đó là đồ chay, nhưng bây giờ thì nó không còn là nguyên liệu độc quyền dành riêng cho những người ăn chay nữa. Vì không chỉ là một món ăn giàu dinh dưỡng, tàu hủ ky còn đa dạng trong chế biến. Nào là tàu hủ miếng lớn, tàu hủ ky cọng khô, cọng non, tàu hủ ky ướp muối…

Làng nghề tàu hủ ky Mỹ Hòa là dải đất nằm kẹp giữa sông Hậu và nhánh Cái Vồn, nay gần chân cầu Cần Thơ. Làng nghề Mỹ Hòa được hình thành từ thời anh em nhà Châu Phạch và Châu Sầm đến vùng đất này khởi nghiệp, bà con trong vùng thấy hay đến xin truyền nghề, dần dà số người làm tàu hủ ky đông lên thành hẳn một làng nghề.
Từ đó, người dân nơi đây cũng trở nên quen dần với mùi khói đặc trưng của những miếng tàu hủ ky vàng ruộm, cùng hình ảnh giàn sợi tàu hủ ky chờ nắng dọc bờ sông.

Dù là thực phẩm chay nhưng tàu hủ ky có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon
Dù là thực phẩm chay nhưng tàu hủ ky có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon

Dù phổ biến là vậy nhưng có lẽ ít ai biết đây lại là một món ăn xuất xứ từ con nhà nghèo. Người ta kể rằng hồi xưa, có một gia đình nghèo khổ làm nghề bán sữa đậu ngoài chợ. Ngày nọ, vợ chồng họ cãi nhau to đến mức quên nồi sữa đang đun trên bếp bị đóng thành váng. Người vợ tiếc của không nỡ bỏ đi nên vớt lấy váng đậu treo lên sào phơi cho ráo rồi quên bẵng đi mất. Khi nhà chẳng còn gì ăn vợ chồng lại lục đục, chị vợ nhìn thấy váng đậu khô bữa nọ còn vắt trên vách bếp bèn lấy ra chế biến với hy vọng sẽ thành món ăn qua cơn đói. Nhưng thật không ngờ là miếng váng đậu đó đã trở thành một món ăn ngon hơn cả tưởng tượng.

Dớt ván tàu hủ ky
Dớt ván tàu hủ ky

Đó là sự tích, còn để làm tàu hủ ky chuyên nghiệp thì phải tốn công hơn nhiều. Để làm tàu hủ ky Mỹ Hòa ngâm đậu chừng 2 tiếng để nở và mềm rồi xay thành bột, sau đó đưa vào máy ly tâm vắt lấy nước. Nước đậu nguyên chất được bỏ lên chảo đun để lấy váng. Thông thường người ta xếp 18 chảo thành hai hàng gọi là một dàn, tùy theo quy mô từng gia đình mà số dàn này nhiều hay ít.

Làng nghề tàu hủ ky Mỹ Hòa, Bình Minh đã tồn tại gần 100 năm
Làng nghề tàu hủ ky Mỹ Hòa, Bình Minh đã tồn tại gần 100 năm

Để lên váng đậu, nước trong chảo chỉ được duy trì ở khoảng 70 độ C. Nếu muốn lá tàu hủ ky dày thì để váng nổi lâu hơn, còn lá mỏng chỉ cần nổi váng chừng 5 phút. Cứ khoảng 10 phút sau khi vớt chảo lại nổi váng một lần và được thợ dùng dao rạch váng rồi treo lên sào trúc ngay phía trên chảo cho ráo. Thợ làm tàu hủ ky phải luôn tay cho đến khi cạn nước, lấy mãi tới lớp cuối cùng thì gọi là vớt bẹ. Để ra được 1kg tàu hủ ky với giá 95 ngàn đồng bán ra thị trường phải dùng khoảng 2,4 kg đậu nành tươi.

Tàu hủ ky được phơi trên sào
Tàu hủ ky được phơi trên sào

Làm tàu hủ ky Mỹ Hòa chỉ sợ đến mùa gió chướng tháng 7, lúc đó nước đục và đậu xấu nên tàu hủ thường lên váng chậm và màu không đẹp. Chỉ từ khoảng giữa tháng 10 đến tháng 4 hàng năm là thời gian thuận lợi để làm được tàu hũ ky ngon.

cay-choi-que-dua

Làng nghề Vĩnh Hựu, làng nghề bó chổi

[vanhoamientay.com] Làng nghề Vĩnh Hựu – “Xóm chổi” ngày nào bây giờ đã trở thành làng nghề Vĩnh Hựu thực thụ. Làng nghề bó chổi Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang nằm dọc theo con kênh Vàm Giồng êm đềm quanh năm rợp mát bóng dừa. Nơi đây có diện tích vườn dừa nhiều nhất của huyện.

Làng nghề Vĩnh Hựu trải qua biết bao thăng trầm
Làng nghề Vĩnh Hựu trải qua biết bao thăng trầm

Câu chuyện của Chổi

Nghề bó chổi que dừa ở Vĩnh Hựu đã có từ lâu, thời gian đầu chỉ có vài chục hộ, nhưng đến nay đã phát triển rất mạnh.
Lúc đầu người ta dùng cây ráng mọc hoang dại theo mương rạch, dòng kênh và sông cửa Tiểu. Có lúc phải bơi xuồng đến tận vùng giáp biển Tân Thành đem về phơi khô rồi dùng dây lạt dừa nước (dây lạt dừa nước là vỏ của phần dưới thân cây dừa nước chẻ nhỏ, đem phơi), bó thành chổi để quét nhà.
Vì cây ráng là cây mọc hoang nên dần dà nguồn nguyên liệu làm chổi bị hiếm, hơn nữa cây chổi làm từ nguyên liệu này dáng bị thô. Nên người ta hay thế bằng tàu cau.
Trước đây, cây cau được nhà vườn sử dụng triệt để vì ngoài tàu cau dùng làm chổi, thân cau già còn dùng để cất nhà, che trại. Trái cau dùng ăn trầu, không thể thiếu trong các tiệc cưới, hỏi. Cau tươi không sử dụng hết sẽ được tách ra lấy ruột phơi khô bảo quản. Cau khô còn được dùng trong công nghệ nhuộm nên lúc bấy giờ.

Do chiến tranh loạn lạc, vùng Vĩnh Hựu là trọng điểm đánh phá ác liệt của địch nên vườn cau điêu tàn, nguồn nguyên liệu cạn kiệt.

Nhiều người không thể bỏ nghề truyền thống, họ dần chuyển qua bó chổi bằng que dừa. Nghề bó chổi bằng que dừa bắt đầu thịnh hành sau những năm đầu thập niên 70.

Trước khi làm chổi bằng que dừa, chổi đã được làm bằng cọng ráng, lá cau
Trước khi làm chổi bằng que dừa, chổi đã được làm bằng cọng ráng, tàu cau

Câu chuyện của làng nghề

Nghề bó chổi que dừa ở làng nghề Vĩnh Hựu đã có từ lâu, Theo các cụ cao niên trong xã cho biết, nghề bó chổi đã xuất hiện ở địa phương từ khoảng thập niên 40 của thế kỷ XX. Thời gian đầu chỉ có vài chục hộ, nhưng đến nay đã phát triển rất mạnh.

Tuy không được nhắc đến ồn ào, nhưng cây chổi que dừa của bà con ở làng nghề Vĩnh Hựu đã giải quyết việc làm cho hàng trăm người dân ở một làng quê nông thôn mới.

Đến các ấp Bình An, Phú Quý, Thạnh Thới, bạn cũng sẽ bắt gặp cảnh các chị em cùng ngồi bên nhau để bó những cây chổi từ que dừa rất nhộn nhịp.
Chổi que dừa của làng nghề Vĩnh Hựu đã có mặt khắp các nơi từ các tỉnh miền Đông đến vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long làm nên “thương hiệu” cho một vùng đất.

Người bó chổi sau khi có nguyên liệu từ que dừa, còn phải sắm thêm dây gân (dây nylon loại dùng câu cá) buộc và vót cây trúc thành những tấm mỏng vừa phải, dày độ 2 mm để bó cặp theo thân chổi cho chắc chắn.
Công đoạn để sản xuất chổi bắt đầu từ làm “mái” – tức bộ phận dùng để quét. Đó là việc kết que dừa lại với nhau và ốp với miếng bẹ dừa, thân trúc đã chẻ đủ độ dài để hình thành sơ bộ hình dáng chiếc chổi. Công việc này đòi hỏi phải khéo tay.

Cô gái bán chổi
Cô gái bán chổi. Ảnh: Bodegabeo

Sau khi đã có “mái”, có thể chuyển giao tiếp cho các lao động nhỏ tuổi hơn để làm “cán”. Bấy giờ, với một cây cọc chôn sâu phía trước nối những sợi dây gân và chiếc búa nhỏ để trợ lực, người thợ sẽ chọn những thanh bẹ ngắn hơn, một đầu vót nhọn hình mũi tên để chèn thêm vào thân và cán chổi cho no đầy, rồi buộc chắc lại cho tròn trịa, vừa tay người cầm. Tiếp đó là công đoạn nện cho chặt những thanh bẹ dừa chẻ nhỏ vào thân chổi.

Công đoạn cuối, người thợ sẽ kiểm tra lại toàn bộ các chỗ buộc, chỉnh sửa cho hình dáng cây chổi bung ra đẹp mắt và sẽ cắt bỏ những phần dư thừa, làm chổi gọn và tiện cho người sử dụng.
Nhiều khi, qua công đoạn cắt tỉa này, phần dôi ra có thể tận dụng để làm những chiếc chổi nhỏ hơn, tăng thêm thu nhập cho người lao động.

Bình thường, một người lao động có thể bó được hơn 20 cây chổi, người thâm niên tuổi nghề thì bó rất nhanh và khéo, hơn 30 cây mỗi ngày.

Sản phẩm chổi que dừa của làng nghề Vĩnh Hựu đã có mặt khắp các nơi từ các tỉnh miền Đông đến vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long.

Làng nghề bó chổi ở Vĩnh Hựu đã tồn tại hơn nửa thế kỷ. Ở mỗi giai đoạn, người làm ra chổi không ngừng cải tiến và hoàn thiện sao cho vừa đẹp vừa bền, tạo sự tin dùng cho khách hàng.
Gần đây có thêm một sáng kiến mới ở làng nghề Vĩnh Hựu, người ta dùng que dừa pha trộn với que lá dừa nước (lá lợp nhà) để tạo ra cây chổi có độ bền, chắc và tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn có ở địa phương.